Đau vai gáy thường do các nguyên nhân rối loạn cột sống cổ gây nên, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới. Phần lớn người bị đau vai gáy thường biếu hiện không điến hình, nguyên nhân không rõ ràng. Theo Marskey và theo phân loại quốc tế các bệnh, đau vai gáy là thuật ngữ được sử dụng đế mô tả cảm giác không thoải mái ở vùng vai gáy như là sự mệt mỏi, căng cơ hay đau tại vùng vai gáy, có thế lan lên đầu hay xuống cánh tay.

Đau vai gáy là vấn đề rất hay gặp ở các nước phát triến, theo Roni Evans và cộng sự :Đau vai gáy ảnh hưởng đến một số lượng lớn cá thế và có một tác động quan trọng về mặt kinh tế xã hội. Ớ Hoa Kỳ, đau vai gáy chiếm tỷ lệ 9% dân số và khoảng 1% trong những nguyên nhân đến khám bác sỹ. Đây cũng là nguyên nhân gây mất việc làm hay gặp tại các nước châu Âu. Tại Anh, mỗi năm có khoảng 91/1000 người nghỉ việc do đau vai gáy, ước tính tốn kém khoảng hơn năm triệu ngày làm mỗi năm.

Người làm việc với máy tính (computer) được định nghĩa là người thực hiện công việc với màn hình liên quan đến việc sử dụng bàn phím hay dùng chuột máy tính, công việc liên quan đến sử dụng máy tính cá nhân hoặc máy tính xách tay .Bên cạnh những lợi ích to lớn của việc sử dụng máy tính đem lại, Tổ chức Y Tế Thế giới đã công bố hội chứng màn hình ảnh hưởng sức khỏe của người lao động do sử dụng máy tính: Ảnh hưởng lên hệ thống thị giác, hệ cơ xương, gây căng thẳng thần kinh tâm lý, ảnh hưởng đến da và thai sản. Trong năm nhóm trên thì ảnh hưởng đến hệ cơ xương thường được đề cập nhiều nhất do tư thế gò bó kéo dài và do tính chất công việc lặp đi lặp lại.

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nguy cơ gây nên hội chứng đau vai gáy ở người sử dụng máy tính như nghiên cứu của tác giả

Swenenne G, van den Heuvel đã cho thấy mối liên quan giữa phong cách làm việc, thời gian làm việc quá qui định với tình trạng đau vai gáy. Atsuo Murata và Ishihara đã chỉ ra mối liên quan giữa thời gian sử dụng bàn phím máy tính với sự mệt mỏi do tâm lý tăng dần theo thời gian. Các nhóm tác giả như Ylimen J, và cộng sự và nhóm Taimela S, Takala EP, Seppa TA tại Phần Lan, Bronfort G, Evans R, Nelson B tại Canada đều cho thấy hiệu quả của can thiệp bằng tập vận động làm mạnh cơ và tăng sức bền của cơ trong cải thiện được tình trạng đau vai gáy mạn tính ở những người làm việc với máy tính. D M Rempel, N Krause, R Goldberg tại Hoa Kỳ đã thấy vai trò của tập luyện, khoa học lao động (ergonomic) và trợ giúp cẳng tay trong phòng và điều trị đau vai gáy ở người sử dụng máy tính.

Ở Việt Nam, các tác giả Lê Vinh, Nguyễn Văn Thông đã đề cập các kiến thức cơ bản về đau vai gáy. Lưu Minh Châu (1999) nghiên cứu mối liên quan môi trường lao động và sức khỏe của người lao động với máy tính . Năm 2009, Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường đã dự thảo ra quy chuấn kỹ thuật về đánh giá thiết kế thay đổi điều kiện làm việc và khoa học lao động vị trí lao động với máy tính nhưng vẫn chưa có công trình nào đề cập tới giải pháp can thiệp hội chứng đau vai gáy ở những người sử dụng máy tính một cách toàn diện, chính vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu giải pháp can thiệp hội chứng đau vai gáy ở những người sử dụng máy tính”.

Sông Ngân